Làm thế nào để có nguồn Polyacrylamide đáng tin cậy từ các nhà sản xuất và nhà cung cấp hàng đầu
Shouxin Advanced Polymer Sciences cung cấp các giải pháp polyacrylamide (PAM) hiệu suất cao cho xử lý nước, khai thác mỏ, bột giấy và giấy và các ứng dụng công nghiệp.Lệnh của Bộ Nông nghiệp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Số 7 năm 2012
Biện pháp quản lý giám sát an toàn chất lượng nông sản "đã được Hội nghị thường trực Bộ Nông nghiệp lần thứ 7 ngày 13 tháng 6 năm 2012 xem xét thông qua, hiện đã công bố, thực hiện từ ngày 01 tháng 10 năm 2012.
Ngày 14 tháng 8 năm 2012
An toàn vệ sinh thực phẩm nông nghiệp (
* Chương tổng quy tắc
* Điều để tăng cường quản lý an toàn chất lượng nông sản và quy phạm công tác giám sát an toàn chất lượng nông sản, xây dựng biện pháp này theo Luật An toàn chất lượng nông sản của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Luật An toàn thực phẩm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Quy định thực hiện Luật An toàn thực phẩm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Điều 2. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở lên triển khai công tác giám sát an toàn chất lượng nông sản phải tuân thủ biện pháp này.
Điều 3. Giám sát an toàn chất lượng nông sản, bao gồm giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản và kiểm tra tại chỗ giám sát an toàn chất lượng nông sản.
Giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản là hoạt động kiểm tra, phân tích và đánh giá một cách có hệ thống và liên tục các yếu tố có hại ảnh hưởng đến an toàn chất lượng nông sản để nắm bắt tình hình an toàn chất lượng nông sản và thực hiện đánh giá rủi ro an toàn chất lượng nông sản, bao gồm giám sát thường xuyên, điều tra và giám sát chuyên môn về an toàn chất lượng nông sản.
Kiểm tra tại chỗ giám sát an toàn chất lượng nông sản là hoạt động kiểm tra lấy mẫu các sản phẩm nông nghiệp đang sản xuất hoặc bán trên thị trường để giám sát an toàn chất lượng nông sản.
Điều 4. Bộ Nông nghiệp xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình giám sát an toàn chất lượng nông sản toàn quốc theo nhu cầu công tác đánh giá rủi ro an toàn chất lượng nông sản, giám sát quản lý an toàn chất lượng nông sản.
Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân địa phương từ cấp huyện trở lên phải xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình giám sát an toàn chất lượng nông sản cấp này theo kế hoạch giám sát an toàn chất lượng nông sản toàn quốc và tình hình thực tế của khu vực hành chính.
Điều 5. Công tác kiểm tra an toàn chất lượng nông sản do cơ quan kiểm tra phù hợp với điều kiện quy định tại Điều 35 Luật An toàn chất lượng nông sản nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chịu trách nhiệm.
Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở lên phải tăng cường xây dựng cơ quan kiểm tra an toàn chất lượng nông sản, nâng cao năng lực kiểm tra.
Điều 6. Bộ Nông nghiệp thống nhất quản lý số liệu, thông tin giám sát an toàn chất lượng nông sản trong cả nước và cơ quan xây dựng cơ sở dữ liệu giám sát an toàn chất lượng nông sản quốc gia và nền tảng quản lý thông tin, đảm nhận công tác thu thập, chỉnh lý, phân tích tổng hợp, báo cáo kết quả giám sát an toàn chất lượng nông sản trong cả nước.
Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân địa phương từ cấp huyện trở lên có trách nhiệm quản lý số liệu, thông tin giám sát an toàn chất lượng nông sản trong khu vực hành chính. Khuyến khích cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân địa phương từ cấp huyện trở lên xây dựng cơ sở dữ liệu giám sát an toàn chất lượng nông sản của khu vực hành chính.
Điều 7. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở lên phải đưa kinh phí công tác giám sát an toàn chất lượng nông sản vào ngân sách của cơ quan, bảo đảm công tác giám sát được triển khai bình thường.
Chương 2: Giám sát rủi ro
Điều 8. Giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản phải được triển khai định kỳ. Căn cứ vào nhu cầu quản lý an toàn chất lượng nông sản, có thể triển khai giám sát rủi ro chuyên môn bất cứ lúc nào.
Điều 9. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trở lên phải xây dựng và thực hiện quy hoạch xây dựng mạng lưới giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản theo nhu cầu của công tác giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản, xây dựng mạng lưới giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản kiện toàn.
Điều 10. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở lên giao nhiệm vụ công tác giám sát an toàn chất lượng nông sản theo kế hoạch giám sát. Cơ quan nhận nhiệm vụ phải lập phương án làm việc theo kế hoạch giám sát an toàn chất lượng nông sản và báo cáo cho cơ quan quản lý nông nghiệp có thẩm quyền giao nhiệm vụ giám sát lập hồ sơ.
Chương trình làm việc phải bao gồm các nội dung sau:
(1) Giám sát phân công nhiệm vụ, xác định cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm lấy mẫu, kiểm tra, tổng hợp kết quả;
b) Nội dung giám sát cụ thể do các cơ quan thực hiện, bao gồm chủng loại mẫu, nguồn gốc, số lượng, hạng mục kiểm tra;
c) Điều kiện đóng gói, truyền tải và bảo quản mẫu;
d) Phương pháp lấy mẫu, phương pháp phát hiện và căn cứ phán đoán của bộ phận giao nhiệm vụ;
(5) Giám sát thời gian hoàn thành và ngày báo cáo kết quả.
Điều 11. Cơ quan quản lý nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở lên phải điều chỉnh kịp thời giống, khu vực giám sát, thông số giám sát và tần suất giám sát phù hợp với tình hình phân bố và thay đổi rủi ro an toàn chất lượng nông sản.
Điều 12. Lấy mẫu giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản phải áp dụng phương pháp lấy mẫu phù hợp với yêu cầu thống kê, bảo đảm tính đại diện của mẫu.
Điều 13. Giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản phải được kiểm tra theo phương pháp tiêu chuẩn đã công bố. Không có phương pháp tiêu chuẩn có thể áp dụng phương pháp phi tiêu chuẩn, nhưng phải tuân theo nguyên tắc kết hợp phương pháp kỹ thuật tiên tiến với công nghệ trưởng thành, được xác nhận bởi nghiên cứu luật học và được nhóm chuyên gia xác định.
Điều 14. Cơ quan thực hiện nhiệm vụ giám sát an toàn chất lượng nông sản phải báo cáo số liệu giám sát và kết quả phân tích cho cơ quan quản lý nông nghiệp được giao nhiệm vụ theo yêu cầu.
Điều 15 Các cơ quan quản lý nông nghiệp của Chính quyền nhân dân cấp tỉnh trở lên phải thiết lập chế độ hội đàm về giám sát rủi ro, tiến hành phân tích hội đàm về kết quả giám sát rủi ro, tìm nguyên nhân của vấn đề và nghiên cứu các biện pháp quản lý.
Điều 16. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân địa phương từ cấp huyện trở lên phải kịp thời báo cáo số liệu giám sát và kết quả phân tích cho cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp cấp trên và thông báo cho các cơ quan liên quan như Văn phòng Ủy ban An toàn thực phẩm cùng cấp, hành chính y tế, giám sát chất lượng, quản lý hành chính kinh doanh, giám sát thực phẩm và dược phẩm.
Bộ Nông nghiệp kịp thời thông báo kết quả giám sát cho Văn phòng Ủy ban An toàn thực phẩm Quốc vụ viện và các cơ quan liên quan như hành chính y tế, giám sát chất lượng, quản lý hành chính kinh doanh, giám sát thực phẩm và dược phẩm và các cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, thành phố kế hoạch.
Điều 17. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở lên phải công bố kết quả giám sát an toàn chất lượng nông sản và thông tin liên quan theo thẩm quyền và trình tự pháp luật.
Điều 18 Thủ tục lấy mẫu, phương pháp phát hiện công tác giám sát rủi ro phù hợp với quy định tại Chương 3 của Luật này, kết quả giám sát có thể được sử dụng làm cơ sở thực thi pháp luật.
Chương 3: Kiểm tra giám sát
Điều 19. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở lên phải tập trung vào kết quả giám sát rủi ro an toàn chất lượng nông sản và những vấn đề nổi bật được phát hiện trong giám sát an toàn chất lượng nông sản, kịp thời triển khai công tác kiểm tra, kiểm tra, giám sát an toàn chất lượng nông sản.
Điều 20. Kiểm tra, kiểm tra giám sát được thực hiện theo nguyên tắc tách cơ quan lấy mẫu và cơ quan kiểm tra. Việc lấy mẫu là trách nhiệm của cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương hoặc cơ quan thực thi pháp luật của họ, và việc kiểm tra là trách nhiệm của cơ quan kiểm tra an toàn chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Cơ quan kiểm tra có thể hỗ trợ thực hiện các công tác như lấy mẫu và tiền xử lý mẫu theo nhu cầu.
Việc thực hiện kiểm tra ngẫu nhiên giám sát bằng phương pháp kiểm tra nhanh không bị hạn chế bởi các quy định trong đoạn trước.
Điều 21. Người lấy mẫu phải xuất trình giấy tờ thực thi pháp luật hoặc giấy tờ làm việc cho người được kiểm tra trước khi lấy mẫu. Không ít hơn hai nhân viên lấy mẫu có giấy tờ thực thi pháp luật.
Nhân viên lấy mẫu phải điền chính xác, khách quan, đầy đủ đơn lấy mẫu. Đơn lấy mẫu phải đóng dấu đơn vị lấy mẫu và do người lấy mẫu và người được kiểm tra ký hoặc đóng dấu; Người bị kiểm tra phải đóng dấu người bị kiểm tra hoặc do nhân viên ký tên hoặc đóng dấu.
Lấy mẫu đơn nhất bốn bản, lần lượt giữ lại đơn vị lấy mẫu, người bị kiểm tra, đơn vị kiểm tra và cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp giao nhiệm vụ.
Mẫu lấy phải được nhân viên lấy mẫu và người được kiểm tra ký tên hoặc đóng dấu tại chỗ.
Điều 22. Người được kiểm tra có thể từ chối lấy mẫu trong một trong các trường hợp sau đây:
(a) Ít hơn hai người lấy mẫu có giấy tờ thực thi pháp luật; b) Người lấy mẫu không xuất trình giấy tờ thực thi pháp luật hoặc giấy tờ làm việc.
Điều 23. Người bị kiểm tra từ chối lấy mẫu mà không có lý do chính đáng, người lấy mẫu phải thông báo hậu quả và biện pháp xử lý từ chối lấy mẫu. Người bị kiểm tra vẫn từ chối lấy mẫu, người lấy mẫu phải điền vào văn bản xác nhận kiểm tra giám sát tại hiện trường, do nhân viên lấy mẫu và nhân chứng cùng ký tên, đồng thời kịp thời báo cáo tình hình với cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp địa phương, xử lý nông sản bị kiểm tra không đạt tiêu chuẩn.
Điều 24. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp cấp trên giám sát kiểm tra cùng một lô nông sản, cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp cấp dưới không được kiểm tra lại.
Điều 25. Tổ chức kiểm tra nhận mẫu, phải kiểm tra, ghi lại sự xuất hiện, trạng thái, con dấu của mẫu và các trường hợp khác có thể ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra hoặc quyết định toàn diện, và xác nhận rằng mẫu phù hợp với hồ sơ của mẫu, để kiểm tra và sao lưu mẫu tương ứng sau khi được dán nhãn tương ứng. Nếu cần thiết, trong tình hình không ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra mẫu, bạn có thể phân phối hoặc đóng gói lại số mẫu kiểm tra.
Điều 26. Cơ quan kiểm tra phải tiến hành kiểm tra, phán định theo phương pháp và căn cứ phán định của cơ quan giao nhiệm vụ.
Việc phát hiện bằng phương pháp phát hiện nhanh phải tuân thủ các quy tắc hoạt động có liên quan.
Trong quá trình kiểm tra, khi mẫu bị lỗi hoặc các tình huống khác khiến việc kiểm tra không thể thực hiện được, cơ quan kiểm tra phải ghi lại đúng sự thật và đưa ra giấy chứng nhận bằng văn bản.
Điều 27. Cơ quan kiểm tra không được ủy thác nhiệm vụ kiểm tra kiểm tra giám sát cho cơ quan kiểm tra khác chịu trách nhiệm.
Điều 28. Cơ quan kiểm tra phải kịp thời báo cáo kết quả kiểm tra cho cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp đã giao nhiệm vụ. Nếu kết quả kiểm tra không đạt tiêu chuẩn, trong vòng hai mươi bốn giờ sau khi xác nhận phải báo cáo kiểm tra cho cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp và cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp nơi kiểm tra, cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp nơi kiểm tra phải kịp thời thông báo bằng văn bản cho người bị kiểm tra.
Điều 29. Người bị kiểm tra không đồng ý với kết quả kiểm tra có thể xin phúc tra bằng văn bản với cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp hoặc cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp cấp trên trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được kết quả kiểm tra.
Áp dụng phương pháp kiểm tra nhanh để giám sát kiểm tra, người bị kiểm tra có phản đối kết quả kiểm tra, có thể xin kiểm tra lại bằng văn bản trong vòng bốn giờ kể từ khi nhận được kết quả kiểm tra.
Điều 30. Kiểm tra lại do cơ quan kiểm tra có tư chất của cơ quan hành chính nông nghiệp chịu trách nhiệm.
Kiểm tra lại không được sử dụng phương pháp phát hiện nhanh.
Kết luận kiểm tra lại phù hợp với kết luận kiểm tra ban đầu, chi phí kiểm tra lại do người xin chịu; Không nhất trí, chi phí kiểm tra lại do cơ quan kiểm tra cũ chịu.
Điều 31. Cơ quan quản lý hành chính nông nghiệp của Uỷ ban nhân dân địa phương từ cấp huyện trở lên phải kịp thời kiểm tra, xử lý nông sản không đạt tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật hoặc chuyển giao cho các cơ quan liên quan như quản lý hành chính công thương.
Chương 4: Kỷ luật làm việc
Điều 32. Giám sát an toàn chất lượng nông sản không được thu phí từ người bị kiểm tra, mẫu giám sát do đơn vị lấy mẫu mua từ người bị kiểm tra.
Điều 33. Người tham gia công tác giám sát phải tuân thủ pháp luật, liêm khiết công chính, không được lừa gạt, lấy quyền mưu tư.
Người bị kiểm tra hoặc người có quan hệ lợi ích không được tham gia công tác lấy mẫu, kiểm tra.
Điều 34. Lấy mẫu phải được thực hiện nghiêm túc theo phương án công tác, không được tự ý thay đổi.
Nhân viên lấy mẫu không được thông báo trước cho người bị kiểm tra, không được nhận quà tặng của người bị kiểm tra, không được lợi dụng lấy mẫu để kiếm lợi ích phi pháp.
Điều 35 Cơ quan kiểm tra phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của kết quả kiểm tra và không được nói dối, báo cáo chậm về dữ liệu kiểm tra và kết quả phân tích.
Cơ quan kiểm tra không được lợi tham gia hoạt động bồi thường bằng kết quả kiểm tra.
Điều 36. Đơn vị đảm nhiệm nhiệm vụ giám sát và người tham gia công tác giám sát phải giữ bí mật chương trình công tác giám sát và kết quả kiểm tra, không được tiết lộ cho bất kỳ đơn vị, cá nhân nào nếu chưa có sự đồng ý của cơ quan giao nhiệm vụ.
Điều 37. Bất cứ đơn vị, cá nhân nào có hành vi vi phạm trong công tác giám sát an toàn chất lượng nông sản đều có quyền tố cáo với cơ quan quản lý nông nghiệp, cơ quan nhận được tố cáo phải kịp thời điều tra xử lý.
Điều 38. Đối với nhân viên vi phạm kỷ luật công tác lấy mẫu và kiểm tra, do đơn vị chịu trách nhiệm xử lý tương ứng và báo cho cơ quan có thẩm quyền cấp trên lập hồ sơ.
Vi phạm quy định bảo mật số liệu giám sát, do cơ quan có thẩm quyền cấp trên thông báo phê bình người phụ trách đơn vị chịu trách nhiệm nhiệm vụ, xử lý, xử phạt người có trách nhiệm trực tiếp theo quy định của pháp luật.
Điều 39. Cơ quan kiểm tra không báo cáo kết quả số liệu mà không có lý do chính đáng thì do cơ quan có thẩm quyền cấp trên thông báo phê bình và giao trách nhiệm sửa chữa; Tình tiết nghiêm trọng, hủy bỏ tư cách đảm nhận nhiệm vụ kiểm tra.
Cơ quan kiểm tra làm giả kết quả kiểm tra hoặc đưa ra kết quả kiểm tra không thực tế, xử phạt theo điều 44 của Luật An ninh chất lượng nông sản nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Điều 40 Nếu vi phạm các quy định của biện pháp này và cấu thành tội phạm, cơ quan tư pháp sẽ bị chuyển đến cơ quan tư pháp để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Chương V Phụ lục
Điều 41. Quy định này được thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2012.












